Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Video_13cailuongEnglish.flv Images_210.jpg Diendanhaiduongcom19072_19.jpg Images_27.jpg Diendanhaiduongcom19072_17.jpg Mauchuvietbangchuhoadung.png Hiep_Thuan__bai_1.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Bannertet2013.swf GIANGSINH1.swf Sntrungkien.swf Luyen_chu_dep_anh_duong.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Nhung_5B.jpg 16_chu_e_dtd.swf 12_viet_chu_a_dtd.swf Buom_Hoang_de.jpg 15_viet_chu_c_x.swf 13_chu_d_dtd.swf

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Website của Lương Đức Toàn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Cùng chia sẻ > Lưu giữ kỷ niệm >

    Rơm rạ làng quê

     

    Không hiểu sao tôi lại hay thắc thỏm đến cái làng quê nghèo ấy? Mà nhớ nhất là lúc thấy một áng mây trời bay ngang qua, kí ức về một cánh đồng sau mùa gặt chợt hiện lên rõ ràng. Có lẽ vì cái rơm rạ đồng ấy nó nhắc khéo cho tôi về cái nghèo của làng mình. Cái túng bấn quẫn bồ thóc tháng hai chợt ngửi thấy mùi rơm là ứa nước mắt.

     

     Khi mùa hạ khéo chín giăng lên những hàng phượng trên phố thì ở quê tôi mùa gặt cũng bắt đầu. Nói như thế để thấy rằng vạn vật khai sinh hay đơm hoa kết nụ cũng vận vào một quy luật của nhân gian - đất trời. Khi tôi còn ở Huế, mỗi lúc cánh phượng trên đường Đoàn Thị Điểm xuyết những chấm đỏ đầu tiên khai thức hạ là nhảy ngay lên xe về nhà gặt đồng. Giờ đi xa, ở xứ tuyết không có phượng nhưng hoa thì đã rãi khắp những triền cỏ. Một chiếc máy bay xé mây vút về phương nam, tôi như muốn có mặt trong số hành khách đó mà trở về. Nhớ lắm! Chiều hôm nay anh bạn bật máy lửa mời tôi điếu thuốc, khói bay lên như thể cánh đồng làng những chiều xưa. 

    Tôi thích tưởng tượng rơm trong cái cuộc luân chuyển đồng hoá - dị hoá sinh vật học gắn liền với đời sống một con người. Mà phải là người nhà quê mới đúng! Mẹ hoài thai con chín tháng mười ngày, lúa giống mùa trước cũng ủ ấp mầm trẩy hạt dâng tặng đời. Cái nghĩa tình của hạt lúa nhà quê sao giống với mẹ ta vậy! Rơm là sự nối tiếp sau cuộc dâng tặng thầm lặng đó. Cũng như người mẹ thầm lặng làm cái công việc vắt sữa nuôi con tháng ngày thơ ấu.

    Người nhà nông làm ruộng, nói bận rộn thì hơi quá mà nói nhàn rỗi thì thật phụ bạc. Tôi, con trai ông nông dân, cũng từng cầm cuốc ra đồng gieo hạt, cầm vằng ra đồng gặt lúa, cũng thức đêm thức hôm canh miếng nước hiếm hoi tháng sáu nên tôi hiểu được nghiệp nhà nông. Sẽ không quá thừa khi muốn kể lể chuyện làm nông, bạn cố gắng đọc chậm để thấm từng giọt mồ hôi quê.

    Hầu hết các vùng đồng bằng ở miền trung đều canh tác đất mỗi năm hai vụ. Nhưng có nơi chỉ được một vụ do chuyện nước nôi. Ngoài hai vụ lúa thì người nhà quê cũng biết cách chen thêm một vụ khoai cho đỡ phí đất. Nghĩ, cái nghiệp nhà nông là phải tằn tiện chắt bóp như thế mới mong đủ ăn.

    Ra đồng mùa đông, lạnh cóng chân tay, hạt lúa ủ mầm ba hôm nứt ra vết trắng bị ném xuống bùn nhão. Nó cũng lấm lem tội nghiệp giống người gieo hạt vậy đó! Tôi thương những hạt lúa mầm vì trong đó có cái tần tảo của cha, cái nhọc nhằn của mẹ, cái ngóng trông của bà thắp tít tắp những chân ruộng buồn tênh. Giống gieo đồng phải được chọn từ những mùa trước, nhưng thường là chọn những đám tốt của mùa gần đây nhất. Lấy một đám lúa sây hạt, không bị sâu bệnh gặt về, phơi riêng hai ba nắng rồi bọc túi ni lon móc lên trần nhà. Chọn đám lúa tốt thì hạt phải đầy, no căng, màu vàng rộm ngả sang đo đỏ như cái má của cô gái làng mỗi khi thẹn thùng. Lúa giống nhất thiết không được đem ra ăn, dù có đói thì cũng không được sờ mó tới cái hầu bao đã móc lên trên kia. Nhà nông coi việc lạm vào lúa giống là sự “thất đức”, ấy là nói theo kiểu gia truyền bảo pháp, hay “cha làm thầy con đốt sách”. Giống mùa trước để lại, đem đi ăn thì chả khác gì hạ bàn thời xuống lấy gỗ nhóm bếp thổi cơm.

    Ủ giống cũng là một công đoạn quan trọng. Lấy bao gai đựng lúa rồi nhấn xuống nước độ một ngày cho hạt “chết đuối” rồi lôi nó lên ủ hai ngày đêm. Nóng quá buộc hạt phải “hả hoọng” ra thôi. Nói như thế thì hạt lúa giống dễ thương như đứa con nít, bảo gì nghe nấy! Cái việc bắt đầu ủ giống cũng phải theo lệnh của đội đã mới làm. Làng xã gắn liền với lối sống quần cư, trọng tình nghĩa và nhất là phải tương hỗ lẫn nhau. Muốn làm gì cũng phải có bầu có bạn, nhất là trong cái chuyện làm ra hạt lúa thì không thể tự do được. Trưởng thôn sẽ có cách nhắm trời xem thời tiết, chọn ngày thích hợp thì vác cái kẻng mà đánh. Cũng không cần phải nói gì cả, người dân tự hiểu là mùa mới đã bắt đầu và tự động đi ủ lúa.

    Quê tôi những ngày đó bắt đầu nhộn nhịp. Cánh đồng vắng tênh từ hôm trước thì nay đã thấy những chú trâu chạy đường cày. Bác trai đi sau vừa dắt cày vừa thúc trâu để cổ vũ tinh thần lao động. “Nói chuyện với trâu”, có lẽ như thế hợp hơn khi ví cái dẫn dắt của bác nông dân với con trâu-đầu cơ nghiệp của mình. Dắt trâu có những mật hiệu riêng mà nói ra là nó hiểu. Ví như “tắc”, “rì” là bên trái bên phải, “họ” là dừng lại. Mắt trâu nhìn đăm đăm vào cái bạt ngàn cánh đồng toát lên sự cương nghị của chú lính khoẻ khoắn.

    Để dắt được trâu đi cày không phải dễ, cũng cần học cả đấy! Trước hết phải thuộc mật hiệu, biết lượng sức trâu để cho nó cày hay nghỉ ngơi đúng lúc. Và nhất thiết, người cầm cày phải có chút dũng cảm, thậm chí là gan lì với những con trâu nổi. Trâu nổi là những chú trâu đực có tính khí nóng nảy, vận theo cái cách phán tướng thì mệnh hoả, sinh giờ dần vào lúc triều cường lên. Trâu nổi được cái là cày vừa khoẻ vừa dai sức. Nhưng bù lại thì phải đối xử với nó vừa ôn hoà thân thiện vừa phải cương nghị cứng rắn. Ngày xưa nhà tôi cũng có một con trâu nổi, khi điên tiết lên nó sùng sục như chực húc vào bất cứ cái gì. Chỉ ông nội tôi là thu phục được nó, chắc nó cũng biết sợ cái tuổi rồng của ông.

    Kể cái chuyện trâu là để nhắc khéo đến rơm rạ vì rơm rạ là thức ăn cần thiết cho trâu bò trong mùa đông. Ở quê, nhà nào cũng lo chuyện rơm rạ, vừa để nấu nướng, vừa để cất lại dành cho trâu bò ăn thêm vào ngày lạnh.

    Khi mùa hạ vừa chạm ngõ, hay tin gió phây phẩy báo mùa thì nhà nhà đều chuẩn bị tinh thần mà ra đồng. Cây lúa đẻ nhánh mới mấy bữa trước gặp trận mưa giông táp ngay khí trời mà trổ đòng kết hạt. Cái lúc đó thì ngào ngạt mùi thơm lúa thời con gái. Cái vàng rộm của cả cánh đồng như bị thắp cháy lên bởi nắng miền trung, rơm rạ cũng đã nghe mùi từ thân lúa.

    Gặt xong là có ngay rơm, rơm tươi xanh màu thâm thẫm và điểm thêm vàng. Những năm mất mùa hay bị sâu bệnh hại thì nhìn thân rơm chợt thấy thương cho nghiệp nhà nông đã cơ hàn còn thất bát. Rơm những mùa ấy cũng buồn như lòng người vậy đó! Lũ trâu bò bấy lâu thèm cái tươi rói của thân lúa giờ thoã sức xé mồm ra mà ngoạm. Lũ trẻ mục đồng giờ cũng không cần phải khoá mõm bò bằng mấy cái so (rọ) vì sợ chúng đi ăn kẹ nữa.

    Rơm ngày xưa là rơm tuốt. Những cái máy tuốt cứ thế mà cọc cạch quay suốt ngày suốt đêm những khi mùa màng tới. Nhưng máy tuốt cũng không thể trảy hết hạt ra được. Vậy là sau đó lại phải quẳng nắm thân lúa tuốt xong xuống đất để chà xát. Đạp! Mòn cả chân. Tôi nhớ những ngày còn nhỏ, sợ nhất là đến mùa vì phải ra sân mà đạp lúa. Sợ ba mắng mà đạp vậy đó chứ có thích thú gì. Đến khi lên giường ngủ thì chân lúc nãy thấm nước trên thân lúa nên ngứa ngáy khó chịu, nằm mà gãi một hồi cho đến mỏi tay thì ngủ. Giờ nhớ lại cái chuỗi ngày đạp lúa xưa kia thấy phát sợ, nhưng cũng đáng yêu. Ở quê tôi, có anh chàng nọ đi gò gái. Đến nhà người ta thấy đạp lúa thì nhảy vào giúp, cố lấy lòng ông bà. Không may hạt lúa vô tình bay vào mắt, mù một con. Vậy là thương quá nên nhà kia phải gả con gái cho chàng mù một mắt. Nghĩ, thấy cái nét làng trong chuyện này cũng hay đấy. Rơm rạ bật cười phía góc sân.

    Thời nay đã có máy đùn máy thổi, thậm chí là máy gặt đập liên hợp. Rơm ra khỏi ống máy thổi vẫn còn y nguyên cây không bị nhàu. Hạt lúa cũng được trẩy ‘sạch’ hơn, trên đầu những nhánh rơm chỉ sót lại lẻ tẻ đôi ba hạt. Nhưng mà “tích tiểu thành đại”, hạt lúa bung ra lọt theo những xới rơm mà nằm trên đất. Lũ trẻ chúng tôi thường đi lật hết tất cả đống rơm vừa thổi ra, dùng tay mà rũ rũ rơm, thể nào cũng hốt được kha khá lúa đi đổi kem. Ừ! Cái nghiệp nông, lại nói đến cái nghiệp nông thì nó tằn tiện lắm nên trong chúng tôi, cái tính con nhà nòi bùn đất không thể thoát được,

    Sướng nhất là chơi với rơm. Cứ đến mùa gặt, nghe đâu có tiếng xình xịch máy thổi là cả lũ con nít chúng tôi kéo nhau đến “tắm rơm”. Trò này giờ nghĩ lại thấy sao mà ngu? Máy đang ùn ùn thổi mà cả bọn đứng phía trước hứng. Rơm cứ thế phủ lên người thấy vui. Có đứa cố ý nằm yên cho rơm lấp kín người rồi vùng bật dậy. Khiếp! Nhỡ mà quên thì rơm nó đè không cho vùng lên luôn ấy chứ.

    Rồi thì tung rơm chọc nhau, tay vơ từng nắm rơm ném quẳng thẳng vào thân hình mấy đứa bạn. Rơm thổi ra chất thành một đống cao, chúng tôi thường trèo lên trên đó nhún nhún và nhảy xuống y hệt mấy hiệp sĩ bay từ trên núi cao xuống vực cứu công chúa. Ừ, giỏi tưởng tượng như trẻ con thì cứ gì mà không dám, rơm rạ thành ra bạn của những đứa bé chúng tôi ngày ấy.

    Sau mùa, rơm không phải vứt đi mà để dành làm chất đốt nấu nướng và cho trâu bò. Những thân rơm được rải ra trên mặt ruộng hứng nắng miền trung vàng rộm lên. Nhớ cái trần trùng trục của ông nội cầm cái “mùng xảy” hai chấu xốc từng ụ rơm to mà rải. Ông tôi bảo, có cái ăn thì cũng phải lo cái đốt. Vậy là đến mùa gặt ông chả dám ngủ trưa, hết lo sân phơi lúa thì chạy ra đồng lật trở rơm. Ba kể lại, ngày xưa quí rơm còn hơn quí lúa gạo. Gặt là tận gốc để lấy được nhiều rơm. Mà cái hồi đó chưa có xe cải tiến thì phải khiêng từng gánh lúa từ ruộng xa về nhà. Ngày nay thì chất đốt không còn phải lo lắng nhiều nhưng ông nội tôi vẫn không thể bỏ rơm được. Ông quí rơm như trọng cái tình làng nghĩa xóm, vì rơm cũng gần gụi như người bà con mình mà.

    Rơm phơi độ hai nắng, tức hai ngày, người quê hay chọn nắng làm thước đo thời gian. Ví như nói “ra đồng từ lúc nắng mới lên” thì cỡ năm sáu giờ sáng. Thuở đồng hồ còn hiếm thì chọn nắng thay anh tích tắc là chuyện thường. Phơi rơm xong chất thành từng đống nhỏ, đợi vài hôm đủ nhiều thì bắt đầu “xây đụn rơm”. Người quê thường dựng lên một trụ chính giữa, ba trụ xung quanh làm sườn cốt cho đống rơm. Độ chiều chiều mát, gió nam phây phẩy thì cùng nhau dùng những cái đòn xẩy mà tấp rơm vào đó. Tôi thường được ông nội nhủ lên đứng đụn, tức là trèo hẵn lên trên để san rơm cho cái đụn rơm tròn. Khi cái đụn rơm đã cao, phủ đầy các cột thì bắt đầu giằng lại để giữ rơm khỏi tuột xuống. Dùng mấy cái nè tre khá dài, cột chụm đầu lại và móc lên trên. Đến khi đó thì ông nội bắc cái thang cho tôi xuống đất nhìn ngắm “tác phẩm” đã hoàn thành. Hình dạng đụn rơm giống một cái nấm. Nhìn vào đụn rơm có thể đoán được tính cách người xây rơm. Ở quê coi trọng điều này lắm, nên chi bao giờ xây rơm ông tôi cũng phải trực tiếp đứng đó mà chỉ bảo.

    Cánh đồng sau mùa gặt trống huơ trống hoắc, những gốc toóc còn lại cùng với rơm rơi vãi trên đồng thì gọi là rạ. Nhưng người ta vẫn thường hay gọi chung chung “rơm rạ” chứ ít khi tách ra thế lắm! Rơm rạ còn sót lại trên đồng được thu dọn bằng cách thắp lửa đốt cháy. Cách làm này vừa để dọn sạch ruộng, vừa diệt trừ mầm cỏ và mầm sâu bệnh hại. Rơm cháy xong cho tro còn có tác dụng làm tăng chất mùn cho đất mùa sau.

    Từ việc này mà có nhiều nơi gọi cái khoảng thời gian sau gặt là mùa đốt đồng. Khoảng xế chiều là bắt đầu nhón mồi rơm. Lửa cháy lấm láp liếm từ từ rồi lan rộng ra khắp đồng. Ngọn lửa bốc cháy không cao nhưng cái khói bay lên thì ngùn ngụt. Đẹp lắm! Cả đám mây trên kia cũng sà xuống như muốn tham gia vào cuộc hân hoan của lửa. Khói quyện mình lăn xả vào đám mây bật khanh khách lên tiếng cười trẻ thơ. Lũ trẻ chúng tôi hễ cứ thấy khói bốc lên là chạy ùa vào trong đó mà hò hét.

    Ngày nay người ta dùng bếp ga bếp điện, tiện nghi và không có khói. Nhưng ở quê tôi thì rơm vẫn là chất đốt chính, vừa không mất tiền, lửa cháy ngụm mà cơm lại ngon. Ông nội tôi bao giờ cũng thích ăn cơm nấu bằng rơm. Ông bảo “ăn cơm đó có mùi thơm của đồng”. Rơm cháy xong còn tro ngum ngúm lửa mà vùi củ khoai lang vào, đợi một lúc lôi ra bóc vỏ ăn thì thích lắm!

    Chợt nhớ cái khói lam chiều đốt lên giữa cánh đồng sau mùa gặt bội thu. Nhớ cái khói xông lên len lỏi mái tranh thơm mùi cơm nếp mới. Trong làn khói ấy như có cả vị ngọt vị bùi, vị nhọc nhằn trãi dài mưa nắng của người nông dân. Tôi có thể tưởng tượng ra hình ảnh ông phơi trần trên đồng chăm từng cọng rơm trưa hè, rồi hình ảnh mẹ ngồi khều rơm trong bếp lửa chiều đông...

    Chợt như cái khều của mẹ vô tình xông lên một ngụm khói lam xoáy vào mắt tôi. Cay!

    (Sưu tầm từ Internet)


    Nhắn tin cho tác giả
    Lương Đức Toàn @ 09:03 04/06/2009
    Số lượt xem: 652
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến