Tài nguyên dạy học

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Video_13cailuongEnglish.flv Images_210.jpg Diendanhaiduongcom19072_19.jpg Images_27.jpg Diendanhaiduongcom19072_17.jpg Mauchuvietbangchuhoadung.png Hiep_Thuan__bai_1.jpg Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Bannertet2013.swf GIANGSINH1.swf Sntrungkien.swf Luyen_chu_dep_anh_duong.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi.swf Nhung_5B.jpg 16_chu_e_dtd.swf 12_viet_chu_a_dtd.swf Buom_Hoang_de.jpg 15_viet_chu_c_x.swf 13_chu_d_dtd.swf

    Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Website của Lương Đức Toàn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Cùng chia sẻ > Lưu giữ kỷ niệm >

    Đặc sản làng quê

    Bát nước chè xanh

    Cuộc sống đi lên, con người ta quen với nhiều thức uống văn minh thành phố. Vậy mà sao bát nước chè xanh quê mùa vẫn "gợi" con người ta đến thế. Nhấm nháp ngụm nước chè chan chát, ngòn ngọt ở quán cóc bất chợt ven đường, ta thấy tiếng ru hời của mẹ, tiếng nói của cha, tiếng bà con chòm xóm giữa mùa gặt trưa hè... Hóa ra, nó vẫn là một góc "hồn quê" mát lành cho ta sự bình yên giữa xô bồ phố thị.

    Những lần lang thang trên phố, ngồi ở quán trà đá ven đường, hay ngồi một mình, tôi thường tự pha một cốc trà thật đặc, nhâm nhi để đầu lưỡi cảm nhận hết vị chan chát, đăng đắng, nhưng dìu dịu, tê tê… Vậy mà, tôi vẫn không sao tìm được đúng cảm giác cái dư vị mát lành, ngòn ngọt của bát nước chè xanh quê nhà. Sao tôi lại thấy nhớ đến quay quắt vị ngọt đắng, thơm thơm của bát nước chè mẹ nấu những trưa hè nóng như đổ lửa thế...

    Người phương Tây coi cà phê như một thức uống quen thuộc trong đời sống của họ. Giới trẻ Việt Nam bây giờ cũng coi cà phê như một thú vui khi tụ họp bạn bè. Nhưng tôi lại tin rằng, bát nước chè xanh vẫn là thức uống tạo nên phong vị đặc trưng của người Việt.

    Chẳng biết tự đời nào, bát nước chè xanh đã gắn bó với người dân lao động. Họ uống vừa là để giải khát, vừa để tỉnh táo hơn, nhưng cũng vừa để thưởng thức cho vui miệng. Có người còn nghiện nước chè xanh như nghiện rượu, một ngày không được nhấm nháp là không tài nào chịu nổi.

    Ở quê tôi, các bà, các mẹ vẫn thường nấu chè xanh gọi hàng xóm xung quanh đến uống rồi chuyện trò, vui như hội. Không cứ gì ngày nông nhàn mà cả những ngày mùa, họ vẫn tranh thủ ngồi quây quần bên bát nước chè, tranh thủ vài ba câu chuyện vui vào buổi trưa nắng nóng, rồi ai lại về làm công việc của người ấy.

    Vốn là một vùng quê suốt đời quăng quật bởi gió Lào, người dân quê tôi nghèo thóc lúa nhưng lại giàu tình làng xóm. Chính những bát nước chè xanh đã một phần gắn kết họ lại với nhau hơn. Mỗi lần hội làng, họp xóm mà không có bát nước chè xanh thì coi như mất vui, kể cả những đám hiếu, hỉ bây giờ, ngoài những thức uống có ga, có cồn ra, ấm nước chè xanh vẫn không thể thiếu.

    Tôi còn nhớ hồi bé, cứ tầm sắp ăn cơm trưa, tôi và thằng em trai lại lụi cụi đun cho mẹ một ấm nước chè xanh vì mẹ tôi vốn nghiện nước chè. Không những thế, các cô, các bác bên cạnh nhà, trưa nào cũng sang chơi, thưởng thức nước chè nhà tôi nấu. Ở quê tôi, người ta vẫn cho rằng, nước chè ngon là nước mà khi rót ra nhìn có màu xanh trong vắt, uống vào có vị chan chát, ngòn ngọt đầu lưỡi.

    Mà kể cũng lạ, không phải cái giếng nào, khi nấu lên nước chè xanh cũng cho cái màu ấy, cũng có cái vị ấy. May mắn sao giếng nhà tôi thuộc loại nước ngon nên trở thành “cơ sở uống nước chè số một” của bà con xa gần.

    Bây giờ đi xa, tôi vẫn không thể quên được những buổi trưa ngồi hóng mát bên giàn hoa giấy, nghe những câu chuyện bình dân, và thỉnh thoảng uống bát nước chè xanh trong vắt… Để ao ước, ngày nào đó được trở về quê, để được sống trong không khí ấy.

    Có lẽ không miền quê nào người ta lại mê nước chè xanh như quê tôi. Không chỉ những lúc nghỉ ngơi họ mới thưởng thức nó, mà cả những khi ra đồng làm lụng, các lão nông vẫn không quên đặt vào chiếc rổ con một ấm nước chè xanh mang theo.

    Bát nước chè xanh giúp ta tỉnh táo, minh mẫn hơn, nhưng nếu có người nào dại dột uống vào khi chưa ăn gì, nước chè xanh có thể làm say đến hoa mắt chóng mặt. Vì thế người dân quê tôi thường có câu: “Say như say nước chè”.

    Không biết bao nhiêu năm, bát nước chè xanh vẫn gắn bó với đời sống vật chất và tinh thần người dân quê tôi như thế. Tự nhiên như hạt lúa, củ khoai, bát nước chè xanh làm nên một góc "hồn quê" trong mỗi con người thế hệ chúng tôi. Có lẽ thế mà không phải ngẫu nhiên, quán nước chè ven đường ở những thành phố lớn vẫn là nơi hấp dẫn những kẻ xa quê như tôi tìm đến.

    Cũng không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh những bà, những cô hàng nước lại đi vào văn thơ nhiều đến thế. Thỉnh thoảng, sau những ngày xô bồ phố thị, bạn hãy thử tạt vào một quán nước bên đường, để nhâm nhi, để được tán gẫu với bà hàng nước, với những người xa lạ tình cờ mà trở nên quen biết có khi chỉ qua bát nước chè xanh, bạn sẽ thấy vô cùng thú vị. Có lẽ, đó cũng là một nét văn hóa dân dã rất Việt Nam.

    "Quê tôi nắng đỏ đồng, mưa thấm cả bùn non, quê tôi gừng cay muối mặn níu bao đời câu hát buồn vui… Gốc đa sân đình, đò chiều mẹ đợi, chè xanh mời gọi thơm cả làng ta…”.

    Từng giọt mồ hôi cũng dệt nên mùa màng, từng nỗi nhớ dệt nên tình yêu, từng bát nước chè xanh gợi nên phong vị quê nhà… Thử hỏi, nơi đâu có vị nước đậm đà, ngọt đắng mà ấm áp tình người như bát nước chè xanh xứ mình?

    Cơm nắm muối vừng!

    Những gánh hàng cơm nắm muối vừng ngày ngày vẫn rong ruổi khắp ngõ xóm Hà Nội. Món ăn dân dã ngày xưa nay đã đi vào tiềm thức của người dân Việt. Ngày xửa ngày xưa, khi nước ta còn nghèo đói, cơm nắm đã trở thành món ăn thường nhật của những người dân Việt.

    Người nông dân đi làm đồng xa, cơm nắm trở thành bữa trưa ngon lành giúp lấy lại sức lực cho công việc khi chiều đến. Những người làm nghề buôn bán hay có việc phải đi xa xa một chút, không thể trở về vào đúng bữa, cơm nắm là người bạn đường thân thiết, lót dạ khi đói lòng. Cơm nắm không biết đã xuất hiện từ bao giờ, có lẽ phải từ lâu lắm rồi vì từ thời ông, thời bà, thời cụ, thời kị đã có món ăn dân dã này.

    Ngày nay, cơm nắm vẫn xuất hiện hàng ngày trên những con phố Hà Nội. Cơm nắm không còn là sự hiện diện của cái nghèo, cái khổ của cả dân tộc nữa. Cơm nắm nay đã trở thành một thứ quà quê rẻ tiền nhưng ngon miệng. Khi đã chán ngấy những loại thức ăn nhiều chất như bún, phở, người ta tìm đến một thứ đồ ăn sáng thanh đạm nhưng chắc dạ: cơm nắm muối vừng. Chiều chiều, khi chưa đến bữa cơm tối, bụng hơi cồn cào vì bữa trưa ít ỏi, người ta lại tìm một hàng cơm nắm mua một vắt, ngồi nhẩn nha thưởng thức từng miếng nhỏ.

    Cơm nắm không chỉ được ăn với muối vừng mà có thể ăn với thứ gì tùy thích: cá kho, thịt rim hay ruốc bông cũng chẳng sao. Nhưng mà có vẻ gì đấy như gượng ép nếu không có một chút muối vừng ăn cùng. Cơm nắm và muối vừng sao mà hợp nhau đến thế, cứ như một cặp trời sinh vậy.

    Miếng cơm trắng tinh, mịn màng được gói trong lớp lá chuối xanh ngắt trông thật thích mắt. Đấy là ngày xưa thôi, chứ bây giờ cơm nắm được gói trong một lớp nilon và giấy báo. Dường như hương vị thơm mát của vắt cơm giảm đi mất mấy phần. Muối vừng thì vàng ươm, những hạt vừng đều tắm tắp và một vài hạt lạc rang giã nhỏ thơm lừng. Cơm được cắt ra thành từng miếng nhỏ vừa ăn, chấm một chút muối vừng, đưa lên miệng thấy thật tuyệt. Vị thanh mát của miếng cơm, vị đậm đà, bùi bùi của muối vừng, nhai kĩ thấy được vị ngọt của cơm, của vừng hòa quyện với nhau làm nên bản âm hưởng của làng quê Việt.

    Bây giờ có hẳn một làng ở Văn Giang – Hưng Yên làm nghề bán cơm nắm trên các phố ở Hà Nội. Gánh hàng cơm nắm có khi còn bán thêm cả bánh giày giò hay một vài thức quà quê khác nữa. Để làm ra những vắt cơm dẻo thơm như thế người làm cũng vất vả, nhọc nhằn lắm. Tưởng rằng chỉ cần thổi một nồi cơm mà đã có được vắt cơm ngon thì nhầm quá. Phải nấu cơm thế nào cho vừa lửa, phải dẻo, phải ướt hơn cơm ăn bình thường nhưng không nhão. Cơm phải nắm lúc còn nóng thì những hạt cơm mới quyện dính với nhau.

    Những nắm cơm thành phẩm phải vẫn nhìn rõ từng hạt cơm trong trong, không bị vỡ nát mà vẫn dính chắc vào nhau, nắm cơm bóng mượt, trắng tinh đẹp mắt. Những người thợ phải thức khuya, dậy sớm, tần tảo làm nên một món quà quê dân dã mà thân thương của dân tộc. Để rồi những người thưởng thức món ăn này không khỏi bồi hồi khi nhớ đến và thốt lên: “Thương lắm cơm nắm muối vừng!”

    Dưa cà - Mắm tép

    Có lẽ bao nhiêu nước mưa trên trời mặn một đời mẹ tần tảo nuôi con đều đổ dồn xuống mái nhà nhỏ bé này. Mưa rào xối xả dưới mái hiên. Bên ngoài trời đất mù mịt, u ám. Cố căng mắt mà chẳng nhìn thấy gì. Giữa màn nước trắng đục như vừa chợt thấy bóng mẹ ngày xưa vẫn đứng đó...

    Tay mẹ xanh gầy cầm bát cơm hứng dưới giọt gianh. Nước mưa trong vắt và lạnh. Hạt cơm thì đỏ quạch. Mấy quả cà trắng cứ lập lờ nổi lên, chìm xuống như đời mẹ. Cả đời mẹ quanh quẩn chỉ có cơm cà chan nước mưa, nước vối. Bây giờ được no đủ thì mẹ đã khuất xa...

    Quả cà nho nhỏ lăn theo gót chân

    Vào cữ nắng hè ong ong, ủ lửa là lúc nắng già. Ngoài trời, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt hoa cả mắt. Người ta bảo đấy là " hoa nắng". Trời đứng gió, lá cây lặng ngắt. Nắng đổ lửa thế cà sai quả lắm. Quả cà nho nhỏ thu hết nắng vào trong. Quả nào quả nấy tròn vo, da căng bóng. Trong bấy nhiêu loại cà, mẹ chỉ kén cà xứ Thanh. Là vì quả vừa phải, trăm quả đều tăm tắp như những viên cuội. Cùi thì dầy mà ruột lại ít hạt.

    Từ sáng sớm mẹ đã trở dậy, lập cập cắp thúng ra chợ. Tại đấy, người nhà quê ngược tàu mang về chẳng thiếu thứ gì. Nào khoai sọ, khoai lang, cà pháo, cà bát và cơ man là đỗ. Theo chân mẹ mỏi chân khắp chợ may ra mới mua được mẻ cà vừa ý. Đến xế chiều, nắng xiên khoai lọt qua dàn thiên lý, mát hẳn. Từng chùm hoa chín vàng, thoang thoảng mà lại thơm lâu. Mẹ nhẩn nha pha một ấm chè đặc, hai mẹ con cặm cụi cắt cà. Dao phải sắc như dao cau mới không "ăn" vào thịt cà. Như thế thì nén cà mới không bị ủng, không kháng. Vại muối cà phải là sành Hương Canh, đen nhánh, đanh lì. Qua mỗi mùa hè muối cả chục mẻ nên lớp vỏ sành đã thấm ngấm mấy lần nước muối mặn. Chẳng khác gì ấm pha trà ngấm dầy cao chè. Đá nén cũng phải kén đá cuội to, trơ lì và nhẵn thín. Nước muối mặn mấy cũng không thể ngấm vào. Các loại đá khác khi ngập chìm trong nước muối sẽ thôi ngấm ra, nước đục là cà có vị ngái. Ngay đến vỉ nén cũng phải đan bằng giang đã ngâm kỹ, gác trên gác bếp cho ngấm bồ hóng. Kỹ lưỡng đến thế rồi mẹ mới rải từng lớp cà. Cứ một lớp lại quải đều một lớp muối trắng. Nước đổ vừa xâm xấp mặt cà rồi thả dăm nhát giềng. Xong xuôi đặt vỉ, nén rõ chặt. Mẹ dặn, cứ vài ngày phải xem nước có ngót không. Cốt sao lúc nào cà cũng phải ngập nước. Đến khi vớt ra, để bao lâu cà vẫn trắng phau, không bị thâm tái...

    Trong bếp có vại cà, cả nhà đủ sống qua ba tháng hè. Rau đay, rau ngót cũng một tay mẹ trồng trên mảnh vườn nhỏ sau nhà. Bên bờ rào, mồng tơi rậm rì xanh ngắt. Mùa hè nắng nôi, có bát canh rau với dăm quả cà là xong bữa. Lúc tối lửa tắt đèn, hàng xóm chạy sang xin dăm quả. Cả xóm thành ra nghiện cà mẹ muối. Ai cũng bảo muối cà tưởng là đơn giản. Hoá ra phải có " tay " thì cà nén mới giòn, trắng nõn và tuyệt nhiên không có vị chua...

    Hũ mắm tép ấm lòng những ngày đông

    Cuối hè, mấy trận mưa rào chưa thể xua hết cái oi nồng, bức bí. Tuy thế, khi gió chiều nổi lên đã thấy hơi lạnh phảng phất. Trên mặt hồ, mặt ao, tôm tép úi lên từng đám dầy đặc, sẫm cả mặt nước. Trời nhá nhem rồi tối dần. Mẹ bắc ghế ra đầu hè, bó gối ngồi. Một lúc sau thể nào cũng có ông lão đánh dậm đi ngang qua. Người chưa đến mà gió đã sực mùi tôm cá. Cái giỏ đựng tép nặng chịch, vít tấm lưng ông già gập xuống. Cái dậm thì to kềnh như chiếc diều cứ chực nhấc bổng thân người đẫm nước, tong teo. Mớ tép rui tươi nguyên trút ra rổ. Đầy những rong rêu, cọng cỏ. Mẹ khẽ đảo tay, hàng trăm con tép nhảy tanh tách. Nước bắn tứ phía, óng ánh như có vẩy bạc. Dưới đáy rổ thấy cả cọng vó, đòng đong, cân cấn, niềng niễng rúc đầu chạy ...

    Ngọn đèn dầu thắp lên khoanh tròn một vầng sáng. Mẹ cặm cụi đãi nhặt ốc vặn, rơm rác. "Cái giống mắm tép phải làm rõ sạch và kỹ lắm. Chỉ hơi lẫn một tý là hỏng. Là ngả màu thâm xỉn, mất hẳn cái mầu đỏ hồng". Mẹ giảng giải như thế. Đãi đi đãi lại cho đến khi rổ tép trắng hồng, trong suốt, mẹ mới cho vào cối đá giã giập. Có thế mắm mới nhuyễn, quánh dẻo. Xong đâu đấy, mẹ nhóm bếp rang thính. Ngọn lửa không được to quá, chỉ vừa lom dom. Nhất là phải đảo đều tay. Trăm hạt gạo như một, vàng rộm, nở đều như hoa cau chín. Thính giã vừa tới, không được vỡ vụn. Cứ thế, một lớp tép, lại quải một lớp thính. Khi cho mắm vào hũ, phải nút chặt bằng lá chuối khô. Lúc nào hũ mắm cũng để sát cạnh bếp.

    Nhờ có lửa than, hơi nóng mắm ngấu chín. Suốt cả tháng trời cứ háo hức chờ lúc mẹ mở nút lá chuối. Ba gian nhà sực nức mùi vị ngọt ngào, thơm lạ thơm lùng. Chiều tối đi học về, chạy ù vào bếp. Cơm vừa chín tới để nguyên trên bếp. Mâm là cái mẹt chỉ có độc bát canh dưa vùi trong trấu. Tay mẹ xới lưng cơm nóng hôi hổi, rưới đều từng thìa mắm tươi hồng, đặc sánh. Hơi cơm bốc nghi ngút quyện với mùi mắm tép ngào ngạt. Mẹ nhìn con ăn, mắt rưng rưng. Ngoài trời gió lạnh đã về, hun hút lùa qua khe vách...

    Của ngon vật lạ, mâm cao cỗ đầy rồi cũng chuội đi, có đọng lại gì. Sao vẫn nhớ cồn cào vị mắm tép, nhớ đến xót xa quả cà mẹ muối ngày nào...

                                                                            (Sưu tầm)


    Nhắn tin cho tác giả
    Lương Đức Toàn @ 09:19 04/06/2009
    Số lượt xem: 630
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến